<!DOCTYPE html>
    <html lang="vi" xmlns="http://www.w3.org/1999/xhtml" prefix="og: http://ogp.me/ns#">
    <head>
<title>Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại</title>
<meta name="description" content="Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại - Savefile - Tin tức -...">
<meta name="author" content="Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN">
<meta name="copyright" content="Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN [contact@ussh.edu.vn]">
<meta name="generator" content="NukeViet v4.5">
<meta name="viewport" content="width=device-width, initial-scale=1">
<meta http-equiv="Content-Type" content="text/html; charset=utf-8">
<meta property="og:title" content="Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại">
<meta property="og:type" content="website">
<meta property="og:description" content="Savefile - Tin tức - https&#x3A;&#x002F;&#x002F;ussh.vnu.edu.vn&#x002F;vi&#x002F;news&#x002F;savefile&#x002F;nhan-vat-su-kien&#x002F;vi-tri-cua-viet-nam-trong-he-thong-thuong-mai-bien-dong-thoi-co-trung-dai-9058.html">
<meta property="og:site_name" content="Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN">
<meta property="og:url" content="https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/nhan-vat-su-kien/vi-tri-cua-viet-nam-trong-he-thong-thuong-mai-bien-dong-thoi-co-trung-dai-9058.html">
<link rel="shortcut icon" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/uploads/ussh/logo-ussh-2_100_100.png">
<link rel="canonical" href="https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/nhan-vat-su-kien/vi-tri-cua-viet-nam-trong-he-thong-thuong-mai-bien-dong-thoi-co-trung-dai-9058.html">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/" title="Tin tức" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tin-hoat-dong/" title="Tin tức - Tin hoạt động" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/dao-tao/" title="Tin tức - Đào tạo" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/khoa-hoc/" title="Tin tức - Khoa học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/dam-bao-chat-luong/" title="Tin tức - Đảm bảo chất lượng" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/hop-tac-phat-trien/" title="Tin tức - Hợp tác - Phát triển" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/to-chuc-can-bo/" title="Tin tức - Tổ chức - Cán bộ" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/hanh-chinh-tong-hop/" title="Tin tức - Hành chính - Tổng hợp" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/cong-tac-dang-doan-the/" title="Tin tức - Công tác Đảng - Đoàn thể" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/sinh-vien/" title="Tin tức - Sinh viên" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/phuc-vu-cong-dong/" title="Tin tức - Phục vụ cộng đồng" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/nhan-vat-su-kien/" title="Tin tức - Nhân vật - Sự kiện" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/guong-mat-thu-khoa/" title="Tin tức - Gương mặt thủ khoa" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/chan-dung-nha-giao-nha-khoa-hoc/" title="Tin tức - Chân dung nhà giáo - nhà khoa học" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/chuyen-mon-cong-tac/" title="Tin tức - Chuyên môn - Công tác" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/ussh-tren-truyen-thong/" title="Tin tức - USSH trên truyền thông" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/chao-mung-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-nha-truong-lan-thu-xxviii-vong-2/" title="Tin tức - Chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ Nhà trường" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/ussh-tren-truyen-thong-39/" title="Tin tức - USSH trên truyền thông" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/thong-bao/" title="Tin tức - Thông báo" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/lich-cong-tac/" title="Tin tức - Lịch công tác" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/loai-bai-dac-biet/" title="Tin tức - Loại bài đặc biệt" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/e-magazine/" title="Tin tức - E-magazine" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/infographics/" title="Tin tức - Infographics" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/anh/" title="Tin tức - Ảnh" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/video/" title="Tin tức - Video" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tin-tuc-ve-dhqghn/" title="Tin tức - Tin tức về ĐHQGHN" type="application/rss+xml">
<link rel="alternate" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/vi/news/rss/tuyen-dung/" title="Tin tức - Tuyển dụng" type="application/rss+xml">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/animate.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/bootstrap.min.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/style.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/style.responsive.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/news.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/custom.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/quang.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="style" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/ussh_v2.vi.0.css" type="text/css">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/js/main.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/js/custom.js" type="text/javascript">
<link rel="preload" as="script" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/js/bootstrap.min.js" type="text/javascript">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/font-awesome.min.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/animate.min.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/bootstrap.min.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/style.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/style.responsive.css">
<link rel="StyleSheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/news.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/custom.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/css/quang.css">
<link rel="stylesheet" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/css/ussh_v2.vi.0.css">
<style type="text/css">
	body{background: #fff;}
</style>
    </head>
    <body class="mname-news opfile-savefile">
<div id="print">
	<div id="hd_print">
		<h2 class="pull-left">Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN</h2>
		<p class="pull-right"><a title="Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/">https://www.ussh.vnu.edu.vn</a></p>
	</div>
	<div class="clear"></div>
	<hr />
	<div id="content">
		<h1>Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại</h1>
		<ul class="list-inline">
			<li>Chủ nhật - 25/10/2009 15:30</li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-print">&nbsp;</em><a title="In ra" href="javascript:;" onclick="window.print()">In ra</a></li>
			<li class="hidden-print txtrequired"><em class="fa fa-power-off">&nbsp;</em><a title="Đóng cửa sổ này" href="javascript:;" onclick="window.close()">Đóng cửa sổ này</a></li>
		</ul>
		<div class="clear"></div>
		<div id="hometext">
			Tham luận của TS. Hoàng Anh Tuấn (giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN) trình bày tại <em>Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ III</em> (Hà Nội 12/2008) và đăng trên <em>Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử</em>, số 9-10/2008, tr. 1-16.  
		</div>
		<div id="bodytext" class="clearfix">
			Tham luận của TS. Hoàng Anh Tuấn (giảng viên Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN) trình bày tại <em>Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ III</em> (Hà Nội 12/2008) và đăng trên <em>Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử</em>, số 9-10/2008, tr. 1-16.  

<!--more-->

<p>Hải sử  nói chung và hải thương sử nói riêng không phải là  hướng nghiên cứu quá mới mẻ ở nước ta, dù thành tựu  trên lĩnh vực này chưa thực sự nổi bật <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt1" id="fntr1" name="fntr1"><sup>(1)</sup></a>. Trong khi  đó, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của lịch sử  dân tộc nhìn từ phương diện biển lại chưa phải là  phương pháp tiếp cận phổ biển. Phương pháp này có những  lợi thế nhất định, cho phép chúng ta có cái nhìn đối  sánh và định vị lịch sử dân tộc trong bối cảnh rộng  của hải sử khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, nó đồng  thời đòi hỏi sự thận trọng từ người viết khi xác  định phạm vi nghiên cứu, đặc biệt là việc phân lập  một số khái niệm cụ thể, nhất là những khái niệm  liên quan đến dân tộc và tộc người <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt2" id="fntr2" name="fntr2"><sup>(2)</sup></a>.</p>
<p>Trong  một số bài viết trước đây, khi điểm qua vị trí  của Việt Nam trong hệ thống hải thương khu vực thời  cổ trung đại, tôi đã rất cân nhắc khi phân lập và sử  dụng một số thuật ngữ như “Việt Nam/Đại Việt”,  “người Việt”… nhằm tránh những cách hiểu không sát  thực với bối cảnh lịch sử chung của quốc gia Đại  Việt và cả khu vực <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt3" id="fntr3" name="fntr3"><sup>(3)</sup></a>. Một cách khái quát, việc phân  lập cụ thể nội hàm một số khái niệm sẽ giúp người  viết tránh được những cách hiểu thái quá (hoặc quá  tích cực, hoặc quá tiêu cực) về vị trí của Việt Nam  trong hệ thống hải thương khu vực qua các thời kì lịch  sử. Trên quan điểm đó, bài viết này tiếp tục thảo  luận về vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại  Biển Đông thời cổ trung đại, đặc biệt là vai trò của  một số hải cảng chính yếu của quốc gia Đại Việt  dưới thời Lí - Trần - Lê sơ - Mạc, dưới tác động  của quá trình biến đổi, chuyển dịch của mạng lưới  hải thương khu vực và quốc tế <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt4" id="fntr4" name="fntr4"><sup>(4)</sup></a>.</p>
<h3>Giao Chỉ/Giao  Châu trong hệ thống hải  thương Vịnh Bắc Bộ đến trước thế kỉ X</h3>
<p>Trái với  các quan điểm sử học truyền thống vốn có xu  hướng hạ thấp vị trí của miền bắc nước  ta trong hệ thống hải thương khu vực thời kì cổ và  trung đại, những nghiên cứu gần đây, nhất là những  nghiên cứu của các nhà Việt Nam học nước ngoài, sử  dụng tư liệu thành văn của Trung Quốc thời kì sớm cho  thấy, trong thực tế, lãnh thổ của người Việt có vị  trí quan trọng trong các tuyến hải thương ở Biển Đông  hơn những gì chúng ta từng nghĩ.</p>
<p>Những  phát hiện khảo cổ học tại các di tích đá mới sau  Hoà Bình (Soi Nhụ, Cái Bèo) và hậu kì đá mới (Ngọc  Vừng, Hạ Long) trong những thập kỉ qua cho thấy mật độ  cư trú khá cao và ổn định của các nhóm cư dân cổ tại  các khu vực duyên hải nước ta <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt5" id="fntr5" name="fntr5"><sup>(5)</sup></a>. Không chỉ tiến hành  khai thác và canh tác tại chỗ, những cư dân cổ ở đây  còn tiến hành giao lưu và trao đổi với các nhóm cư dân  khác ở phía nam Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Đông Nam  Á...tạo nên một thế ứng xử tương đối mở và một  truyền thống giao lưu sớm và mạnh với thế giới bên  ngoài <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt6" id="fntr6" name="fntr6"><sup>(6)</sup></a>.</p>
<p>Sau  khi nhà Tần (Trung Quốc) bình định xong các tộc  người Việt phương Nam vào năm 214 TrCN, miền bắc nước  ta trở thành một bộ phận của quận Tượng, một trong  bốn quận (Mân Chung, Nam Hải, Quế Lâm và Tượng) do nhà  Tần lập ra. Sau một thời gian ngắn thoát khỏi sự cai  trị của nhà Tần (208-179 TrCN), năm 179 TrCN người Âu Lạc  lại bị Nam Việt của Triệu Đà xâm lược và đến năm  111 TrCN miền bắc nước ta bị sát nhập vào sự quản lí  của nhà Hán <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt7" id="fntr7" name="fntr7"><sup>(7)</sup></a>. Những tài liệu sớm của người Trung  Quốc cho thấy mục tiêu chính của việc xâm lược phương  nam của các triều đại Trung Quốc là nhằm cướp bóc của  cải của các tộc người Việt giàu có, nhất là với những  sản vật nhiệt đới như sừng tê, ngà voi, lông chim trả,  ngọc trai... trao đổi được với các nhóm cư dân phương  nam <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt8" id="fntr8" name="fntr8"><sup>(8)</sup></a>.</p>
<p>Các  nguồn sử liệu thành văn Trung Quốc giai đoạn sớm đồng  thời cho thấy, trong một số thế kỉ nhất định dưới  thời kì Bắc thuộc, Giao Chỉ đóng vai trò như một trung  tâm điều phối của nền hải thương Trung Quốc ở khu  vực Biển Đông; lị sở Long Biên từng là trung tâm của  các hoạt động giao lưu thương mại, nơi đón tiếp các  phái đoàn thương nhân nước ngoài đến buôn bán với Trung  Quốc. Những tài liệu này đồng thời cung cấp những bằng  chứng cụ thể về sự tồn tại của một tuyến buôn bán  thường xuyên kết nối Quảng Châu với các trung tâm buôn  bán nằm trong khu vực tây bắc Vịnh Bắc Bộ <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt9" id="fntr9" name="fntr9"><sup>(9)</sup></a>. Vào khoảng  đầu Công nguyên, hai cảng Hợp Phố (Hepu) và Tư Văn (Xuwen)  nằm ở sườn bắc Vịnh Bắc Bộ - nơi nghề đánh bắt  và buôn bán ngọc trai đã rất phát triển - được ghi nhận  là điểm xuất phát của người Trung Quốc đi buôn bán  ven bờ xuống phía nam. Không lâu sau đó, hai thương cảng  này đánh mất dần vị trí trung tâm điều phối của mình  và thương nhân phương nam thường xuyên ghé vào vùng hạ  châu thổ sông Hồng <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt10" id="fntr10" name="fntr10"><sup>(10)</sup></a>.</p>
<p>Miền  Bắc nước ta đã đóng vai trò quan trọng như  cửa ngõ giao thương của Trung Quốc ít nhất trong  khoảng ba thế kỉ đầu sau Công nguyên. Từ giữa  thế kỉ III sau Công nguyên, các cuộc khởi nghĩa liên tiếp  của người Việt chống lại ách cai trị của người Hán  liên tiếp nổ ra. Chính sách cai trị khắc nghiệt và sự  vơ vét của các thái thú Trung Quốc ở nước ta không chỉ  tác động tiêu cực đến tình hình trao đổi buôn bán nội  tại mà còn bị coi là một trong số các nguyên nhân dẫn  đến các cuộc đánh phá của người Chàm ra phía bắc từ  nửa cuối thế kỉ IV do ảnh hưởng đến các luồng trao  đổi truyền thống của Chămpa qua Giao Chỉ lên Trung Quốc  <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt11" id="fntr11" name="fntr11"><sup>(11)</sup></a>. Sau khi quan hệ với Chămpa ở phía nam được bình ổn,  hàng loạt các cuộc khởi nghĩa lại liên tiếp nổ ra ở  miền bắc nước ta, tác động xấu đến điều kiện buôn  bán. Như một hệ quả, thương nhân nước ngoài chuyển  hướng buôn bán, đưa thương thuyền của họ xa hơn về  phía bắc đến khu vực Quảng Châu, nơi tình hình chính  trị ổn định và điều kiện buôn bán cũng thuận lợi  hơn <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt12" id="fntr12" name="fntr12"><sup>(12)</sup></a>. Mặc dù sau đó tình hình miền bắc nước ta trở  lại ổn định và thương nhân ngoại quốc đôi khi ghé  vào trao đổi, dường như khu vực châu thổ Bắc Bộ đã  không thể lấy lại vị trí của mình trong hệ thống hải  thương khu vực như ở những thế kỉ trước đó. Cùng  thời điểm trên, cảng Quảng Châu tiếp tục hưng thịnh  và nhanh chóng trở thành cửa ngõ chính để thương nhân  Trung Quốc buôn bán xuống phương nam. Từ triều Tuỳ (589-618),  cảng Quảng Châu không chỉ là điểm khởi hành của phần  lớn thương thuyền Trung Quốc đi xuống buôn bán với phương  nam mà thương nhân ngoại quốc đến Trung Quốc cũng lưu  trú và buôn bán tại đây <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt13" id="fntr13" name="fntr13"><sup>(13)</sup></a>. Hệ thống hải thương tích  cực của triều Đường thế kỉ VII-X xuống Đông Nam Á  cũng như việc thương nhân Tây, Nam, và Đông Nam Á hoạt  động năng động tại miền nam Trung Quốc góp phần kiềm  toả sự hưng thịnh trở lại của hải thương khu vực  duyên hải miền bắc nước ta, mặc dù hoạt động buôn  bán vẫn được duy trì nhưng ở cấp độ không thực sự  cao <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt14" id="fntr14" name="fntr14"><sup>(14)</sup></a>.</p>
<h3>Thế  kỉ X - giữa thế kỉ XV</h3>
<p>Trong một  thời kì tương đối dài các nhà nghiên cứu trong  nước có xu hướng duy trì cái nhìn tương đối  thiếu tích cực về ngoại thương Đại Việt từ sau khi  giành được độc lập vào thế kỉ X. Trái lại, các nhà  sử học nước ngoài cho rằng sự thuyên chuyển vai trò  điều phối thương mại biển từ Giao Chỉ sang các hải  cảng miền nam Trung Quốc từ nửa cuối thời kì Bắc thuộc  cũng như việc người Việt giành được độc lập vào  thế kỉ X không đồng nghĩa với việc phủ nhận vị trí  của miền bắc nước ta trong hệ thống thương mại khu  vực, nhất là trong tuyến hải thương nối Trung Quốc với  các khu vực buôn bán phía nam <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt15" id="fntr15" name="fntr15"><sup>(15)</sup></a>. Những quan điểm trên  ngày càng được củng cố vững chắc trên cơ sở những  nghiên cứu mới, góp phần khẳng định biển và kinh tế  biển đã đóng vai trò khá quan trọng trong sự phát triển  của lịch sử Việt Nam cổ trung đại hơn nhiều lần người  ta từng nghĩ <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt16" id="fntr16" name="fntr16"><sup>(16)</sup></a>.</p>
<p>Hằng  số nước, hằng số biển và các hoạt động kinh tế,  văn hoá gắn với các hằng số này trong quá trình hình  thành và phát triển của lịch sử Việt Nam đã được  các nhà nghiên cứu quan tâm phân tích từ lâu <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt17" id="fntr17" name="fntr17"><sup>(17)</sup></a>. Năm 1986,  trên cơ sở phân tích sự hình thành và phát triển của  các trung tâm buôn bán ven biển (Vân Đồn và Nghệ - Tĩnh)  thời Lí - Trần, nhà sử học người Mĩ John Whitmore đã  đề cao “vai trò thương mại năng động của người Việt  trong nền thương mại quốc tế rất hưng thịnh thời bấy  giờ”, đồng thời kêu gọi các nhà nghiên cứu tập trung  làm sáng tỏ các vấn đề như “nền tảng sản xuất xã  hội phục vụ thương mại, phương thức tổ chức thương  mại và sự năng động xã hội đưa đến sản phẩm dư  thừa…”. Ông kết luận “nguồn của cải thu được  từ thương mại chắc chắn đã góp phần đáng kể vào  việc thiết lập và củng cố quyền lực chính trị, kích  thích nền kinh tế bản địa” <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt18" id="fntr18" name="fntr18"><sup>(18)</sup></a>. Quan điểm này của  Whitmore sau đó được các nhà sử học kế cận như Momoki  Shiro, Li Tana, Charles Wheeler, Nola Cooke… tiếp tục nghiên  cứu và đến nay đã có những nhận thức sáng tỏ (xin  xem cụ thể ở những phần tiếp theo).</p>
<p>Những  thông tin dù sơ lược trong các bộ sử  còn lại đến ngày nay cho thấy, sau khi giành được độc  lập vào thế kỉ X, nhất là dưới vương triều Lí (thế  kỉ XI-XIII), triều đình không hoàn toàn quay lưng lại với  thương mại nói chung và ngoại thương nói riêng. Trên cơ  sở của nền thủ công nghiệp tương đối phát triển,  triều Lí đã có những động thái tương đối tích cực  trong buôn bán với nước ngoài. Theo sách <em>Tục tư  trị thông giám trường biên</em> của Lí Đào, chỉ hai năm  sau khi thành lập, năm 1012 triều Lí xin nhà Tống cho mở  tuyến buôn bán đến Ung Châu qua đường biển; nhà Tống  khước từ và chỉ cho phép thương nhân Đại Việt đến  trao đổi tại Quảng Châu và một số địa điểm khác  ở khu vực biên giới <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt19" id="fntr19" name="fntr19"><sup>(19)</sup></a>. Năm 1040, trên cơ sở của một  nền thủ công nghiệp dệt lụa đã phát triển, vua Lí Thái  Tông “dạy cung nữ dệt được gấm vóc [nên] xuống chiếu  phát hết gấm vóc của nước Tống ở trong kho ra để may  áo ban cho các quan […] để tỏ là vua không dùng gấm vóc  của nước Tống nữa” <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt20" id="fntr20" name="fntr20"><sup>(20)</sup></a>. Năm 1149, đáp lại việc thuyền  buôn các nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La đến Hải Đông  xin cư trú buôn bán, nhà Lí “cho lập trang ở nơi hải  đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hoá quý, dâng  tiến sản vật địa phương” <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt21" id="fntr21" name="fntr21"><sup>(21)</sup></a>. Ở khu vực phía nam,  các trung tâm trao đổi ở vùng Nghệ - Tĩnh cũng có điều  kiện phát triển, thu hút một lượng lớn thương nhân từ  Trung Quốc và Đông Nam Á đến buôn bán <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt22" id="fntr22" name="fntr22"><sup>(22)</sup></a>. Vượt ra khỏi  ý nghĩa quốc gia về chiến lược phát triển kinh tế, trên  phương diện hải thương khu vực và quốc tế, việc nhà  Lí lập trang Vân Đồn có ý nghĩa hết sức quan trọng,  đánh dấu sự dự nhập của quốc gia Đại Việt vào hệ  thống hải thương khu vực và quốc tế qua khu vực Biển  Đông, thể hiện ở một số nét chính sau đây.</p>
<p>–  Cho đến trước thế kỉ XV, các tuyến hải thương quốc  tế nối Trung Quốc với các thị trường phương nam chủ  yếu đi qua khu vực vịnh Bắc Bộ; vùng duyên hải Đông  Bắc nước ta vì thế có vị trí hết sức quan trọng. Trong  ghi chép của các thương nhân và thuỷ thủ ở các thế  kỉ X-XV, vùng biển trải dài từ phía nam Trung Quốc qua  Vịnh Bắc Bộ xuống vùng bờ biển Chămpa nổi tiếng với  tên gọi Giao Chỉ Dương (Biển Giao Chỉ). Trong khu vực buôn  bán sôi động này, các thương phẩm chính là nô lệ, muối  và ngựa đã được trao đổi thường xuyên và Đại Việt  thời Lí đã tham dự một cách tích cực vào các hoạt động  buôn bán ở khu vực biển Giao Chỉ <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt23" id="fntr23" name="fntr23"><sup>(23)</sup></a>. Phân lập các tuyến  thương mại, học giả Li Tana cho rằng, trong bối cảnh rộng  của thương mại khu vực và quốc tế khoảng cuối triều  Đường (thế kỉ VII-X), Giao Châu nói chung và miền bắc  nước ta nói riêng có ưu thế trong việc trao đổi thương  phẩm giữa hai khu vực là biển và các vùng nội địa trong  khi Quảng Châu và các cảng nam Trung Quốc giữ vị thế  tiên phong trong giao dịch với các thương thuyền đến từ  Đông Nam Á, Tây Á và Nam Á <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt24" id="fntr24" name="fntr24"><sup>(24)</sup></a>.</p>
<p>–  Cũng từ thời Đường, thương nhân và thuỷ thủ Hồi giáo  có vai trò quan trọng trong hệ thống hải thương ở khu  vực Đông Á. Vượt qua các trung tâm trao đổi Đông Nam  Á truyền thống, thương nhân Hồi đã đến định cư và  buôn bán tại nhiều thương cảng ở phía nam Trung Quốc,  khu vực đảo Hải Nam và được ghi nhận là có vai trò  năng động trong các tuyến buôn bán nhỏ ở khu vực Giao  Chỉ Dương <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt25" id="fntr25" name="fntr25"><sup>(25)</sup></a>. Ở một số trung tâm buôn bán lớn như  Tuyền Châu (Phúc Kiến), các dòng họ Hồi lớn như Pu Kai-zong  (Bồ Khai Tông) và Pu Shou-geng (Bồ Thọ Khang) còn được  nhà Tống phong làm quan giám thương tại cảng Tuyền Châu  <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt26" id="fntr26" name="fntr26"><sup>(26)</sup></a>. Trong khi đó, ở đảo Hải Nam, cộng đồng Hồi giáo  đông đến mức nhiều làng của người Hui-hu (Hồi Hồ)  đã được lập nên ở các khu vực duyên hải thuộc đảo  Hải Nam <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt27" id="fntr27" name="fntr27"><sup>(27)</sup></a>. Không chỉ có vị thế thương mại vững chắc  tại các hải cảng miền nam Trung Quốc như các quan điểm  truyền thống trước đây thường ghi nhận, Hồi thương  còn tích cực tham dự vào các tuyến buôn bán nối liền  biển với các khu vực nội địa, góp phần đáng kể vào  việc thúc đẩy sự phát triển của mạng lưới trao đổi  ở Biển Đông thời kì này <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt28" id="fntr28" name="fntr28"><sup>(28)</sup></a>.</p>
<p>–  Với Đại Việt từ cuối thời Trần và đầu thời Lê,  vai trò của thương cảng Vân Đồn và vùng cảng biển Đông  Bắc trong hệ thống hải thương khu vực và quốc tế ở  Biển Đông được biết đến nhiều qua chức năng trung  chuyển và xuất khẩu gốm sứ. Bên cạnh chức năng trung  chuyển gốm sứ Trung Quốc ra thị trường khu vực, Vân  Đồn còn được biết đến như cửa ngõ đưa gốm sứ  Đại Việt (men nâu thời Trần và men lam thời Lê sơ) ra  thị trường quốc tế <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt29" id="fntr29" name="fntr29"><sup>(29)</sup></a>. Trong một cái nhìn phổ quát,  sự nổi lên của gốm sứ Đại Việt trên thị trường  quốc tế vào thời điểm này đã đáp ứng một cách kịp  thời nhu cầu cao về gốm sứ thương mại của thị trường  Tây Á (Ba Tư, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kì…) cũng như các thị  trường Hồi giáo khu vực như tại Philippines, Sulawesi...<a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt30" id="fntr30" name="fntr30"><sup>(30)</sup></a>.  Gốm sứ Đại Việt còn được xuất khẩu ra thị trường  khu vực đến nửa cuối thế kỉ XVI trước khi bị suy giảm  do cả nguyên nhân trong nước (biến động chính trị tác  động đến kinh tế) cũng như những tác động từ bên  ngoài (việc nhà Minh bãi bỏ chính sách Hải Cấm vào năm  1567 tạo điều kiện cho sản phẩm gốm sứ Trung Quốc trở  lại chiếm lĩnh thị trường quốc tế) <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt31" id="fntr31" name="fntr31"><sup>(31)</sup></a>.</p>
<p>–  Một trong những nhân tố tác động rất lớn và gần như  xuyên suốt “kỉ nguyên sớm của thương mại Đông Nam  Á (900-1300)”, như Geoff Wade từng đề xuất, là những chính  sách về thương mại và kinh tế hết sức tích cực và  chủ động của các vương triều Tống và Nguyên ở Trung  Quốc. Nối tiếp chủ trương coi trọng tiền tệ để phát  triển thương mại của các chư hầu thời kì Ngũ Đại,  dưới thời Tống, những chính sách cụ thể về tiền tệ,  trao đổi, thuế khoá… trong giao dịch với người nước  ngoài đã được thực thi nhằm kích thích sự mở rộng  của ngoại thương <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt32" id="fntr32" name="fntr32"><sup>(32)</sup></a>. Trên cơ sở đối sánh với những  biến chuyển của hải thương khu vực, nhất là hải thương  Trung Quốc, đã có nhiều quan điểm cho rằng việc nhà Lí  lập trang Vân Đồn và biến khu vực Đông Bắc thành cửa  ngõ thông thương của Đại Việt là một phản ứng nhanh  nhạy và thức thời, kéo Đại Việt dự nhập một cách  chủ động và có hệ thống vào quỹ đạo thương mại  quốc tế ở khu vực Vịnh Bắc Bộ vốn đã hưng thịnh  từ nhiều thế kỉ trước, đặc biệt là sau những chính  sách ngoại  thương tích cực của triều Tống vào cuối  thế kỉ X <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt33" id="fntr33" name="fntr33"><sup>(33)</sup></a>.</p>
<h3>Giữa thế  kỉ XV - cuối thế kỉ XVI</h3>
<p>Diện mạo  ngoại thương Đại Việt nói chung cũng như thương cảng  Vân Đồn và khu vực duyên hải Đông Bắc nói  riêng từ khoảng ba thập niên cuối của thế kỉ XV đến  cuối thế kỉ XVI đã và đang là chủ đề thu hút nhiều  tranh luận giữa các nhà nghiên cứu trong những năm gần  đây. Sự thiếu vắng thông tin về vùng hải cảng Đông  Bắc từ sau năm 1467 trong các bộ chính sử Việt Nam khiến  cho việc nghiên cứu gặp không ít trở ngại, đồng thời  dẫn đến những nhận định về sự suy thoái của ngoại  thương và sự suy giảm chức năng của thương cảng Vân  Đồn <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt34" id="fntr34" name="fntr34"><sup>(34)</sup></a>. Trong khi đó, thông tin từ những đợt khảo sát,  điền dã, khai quật khảo cổ học, kết quả nghiên cứu  gốm sứ thương mại kết hợp với phương pháp sử học  so sánh lại cho phép suy luận về thương cảng Vân Đồn  nói riêng và vùng duyên hải Đông Bắc nói chung trong mạng  lưới hải thương khu vực dưới một quan điểm có phần  tích cực hơn. Học giả John Whitmore đã bày tỏ sự băn  khoăn của mình về “Sự biến mất của Vân Đồn từ  cuối thế kỉ XV” khi Ông cho rằng, trên phương diện chính  sách quan phương của triều đình Lê sơ, nhất là từ triều  Lê Thánh Tông (1460-1497), rõ ràng nhà nước thể hiện những  động thái khá tiêu cực đối với ngoại thương và sự  tồn tại của thương cảng Vân Đồn <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt35" id="fntr35" name="fntr35"><sup>(35)</sup></a>. “Nếu chúng  ta đánh đồng dòng chảy gốm sứ Đông Nam Á với hệ thống  Giao Chỉ Dương và tin chắc rằng Vân Đồn là mấu chốt  quan trọng của hệ thống này trong vài thập kỉ đó [cuối  thế kỉ XV đến đầu thế kỉ XVI], vậy thì điều gì  đã diễn ra? R. Brown từng gợi ý về “khoảng trống Mạc”  của sản phẩm gốm sứ Việt Nam (và của các quốc gia  khác) trong thế kỉ XVI. Dường như “khoảng trống Mạc”  này đánh dấu sự chấm dứt của hệ thống Giao Chỉ Dương,  sự biến mất của Vân Đồn, và sự quá độ sang một  hệ thống mới dạng như Hội An. Làm sao để chúng ta có  thể lí giải được điều này?” <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt36" id="fntr36" name="fntr36"><sup>(36)</sup></a></p>
<p>Trong  thực tế, nếu như chính sử Đại Việt hàm  ý về sự suy giảm chức năng và xa hơn là sự suy tàn của  Vân Đồn, gốm sứ thương mại của Đại Việt xuất khẩu  ra thị trường quốc tế giai đoạn cuối thế kỉ XV - đầu  thế kỉ XVI khiến người ta không khỏi hoài nghi về giả  thuyết này. Bản thân Whitmore, mặc dù đưa ra quan điểm  về sự suy tàn của Vân Đồn cũng như khả năng Đại Việt  đánh mất vai trò của mình trong hệ thống thương mại  khu vực và quốc tế ở Biển Đông từ cuối thế kỉ XV,  vẫn thể hiện sự do dự nhất định khi so sánh với những  thông tin từ kết quả nghiên cứu gốm sứ thương mại  khai quật các con tàu đắm trong những năm gần đây. Ông  băn khoăn: “Đứng trên vấn đề này [chính sách phát triển  kinh tế dưới triều Lê Thánh Tông], chúng ta có thể suy  luận rằng nền hành chính ổn định và phát triển của  Đại Việt trong thế kỉ XV chắc chắn đã kích thích và  hậu thuẫn cho sản xuất thủ công nghiệp và hệ thống  thương mại [tồn tại] như một bộ phận của mạng lưới  Giao Chỉ Dương. Trong thực tế, Vân Đồn nhiều khả năng  đã trở thành điểm then chốt trong mạng lưới này trong  một phần tư cuối của thế kỉ XV cũng như trong thế kỉ  XVI và thay thế cho Thị Nại. Tôi tin rằng chừng nào cấu  trúc quan liêu [triều Lê] còn tiếp tục hoạt động tốt,  chừng đó nội thương và ngoại thương còn diễn ra êm  đẹp” <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt37" id="fntr37" name="fntr37"><sup>(37)</sup></a>.</p>
<p>Có  thể nói, việc xác định vị trí của thương mại  Đại Việt trong hệ thống hải thương khu vực Biển Đông  từ sau năm 1460 đến cuối thế kỉ XVI đã và đang thực  sự thử thách các nhà nghiên cứu. Việc triều Lê sơ, đặc  biệt là từ thời Hồng Đức (1460-1497) có những chính  sách thiếu tính tích cực đối với vấn đề ngoại thương  và khu vực hải cảng Vân Đồn cũng như toàn bộ vùng Đông  Bắc là điều có thật, thể hiện rõ nét trong bộ <em>Quốc  triều hình luật</em> được biên soạn vào thời kì này  <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt38" id="fntr38" name="fntr38"><sup>(38)</sup></a>. Tuy nhiên, ở một khu vực biên viễn như khu vực Vân  Đồn, sự tồn tại của các hoạt động thương mại phi  quan phương là điều khó có thể phủ nhận; thương nhân  Đại Việt và thương nhân nước ngoài chắc chắn vẫn  duy trì hoạt động trao đổi ở một cấp độ nhất định.  Dù sao mặc lòng, chính sách không mấy cởi mở của triều  đình Lê sơ chắc chắn đã có những tác động tiêu cực  đến sự phát triển của Vân Đồn nói riêng và toàn khu  vực hải cảng Đông Bắc nói chung từ sau thập niên 1460.</p>
<p>Sự  phát triển của thủ công nghiệp cũng như thái  độ cởi mở của nhà Mạc (1527-1592) đối với thương  nghiệp có tác động đáng kể đến tình hình trao đổi  trong nước thời kì này. Tuy nhiên, bản thân vấn đề  ngoại thương Đại Việt dưới triều Mạc lại tồn tại  những tranh luận. Nếu như trước đây người ta vẫn tin  vào một sự song hành mang tính tất yếu giữa sự mở rộng  của thủ công nghiệp (và nội thương) với sự hưng thịnh  của ngoại thương Đại Việt thời Mạc, một số nhà nghiên  cứu gần đây lại bày tỏ những băn khoăn, cho rằng cấu  trúc hải thương quốc tế khu vực Biển Đông đã thay đổi  mạnh vào đầu thế kỉ XVI, khiến cho vị trí của Đại  Việt trên các tuyến hải thương truyền thống của khu  vực bị ảnh hưởng rất lớn. Trong rất nhiều những nhân  tố tác động đến hải thương khu vực, tôi cho rằng có  ít nhất ba vấn đề cơ bản sau đây cần được lưu ý  khi nghiên cứu ngoại thương Đại Việt thế kỉ XVI, đặc  biệt là khu vực duyên hải Đông Bắc. Thứ nhất, sự thâm  nhập của người Bồ Đào Nha vào phương Đông và quá trình  xác lập mạng lưới thương mại liên Đông Á của Công  ti Hoàng gia Bồ Đào Nha (<em>Estado da India</em>) <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt39" id="fntr39" name="fntr39"><sup>(39)</sup></a> đã từng  bước phá vỡ cấu trúc thương mại Bắc - Nam ở khu vực  Biển Đông và Nam Hải <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt40" id="fntr40" name="fntr40"><sup>(40)</sup></a>. Đặc biệt, với sự thâm nhập  của người Bồ vào miền nam Trung Quốc và xác lập vị  trí thương mại của họ tại Macao trong nửa đầu thế  kỉ XVI, hoạt động buôn bán tại các khu vực duyên hải  nam Trung Quốc và Đông Bắc Việt Nam đã bị tác động  đáng kể, nếu không muốn nói là bị suy giảm bởi sức  hút mạnh từ người Bồ định cư buôn bán ở Macao <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt41" id="fntr41" name="fntr41"><sup>(41)</sup></a>.</p>
<p>Thứ  hai, việc thương nhân Trung Quốc, đặc biệt là thương  nhân Phúc Kiến, khai mở và phát triển ngày càng mạnh mẽ  tuyến hải thương nam Trung Quốc - Philippines - Đông Nam Á  từ cuối thế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt42" id="fntr42" name="fntr42"><sup>(42)</sup></a> đã tác động  không nhỏ đến vị trí của các hải cảng ven biển nước  ta. Sau khi người Tây Ban Nha đến định cư và buôn bán  tại Philippines, mang đến đây hàng năm một lượng bạc  lớn từ Tân Thế giới, số lượng Hoa thương đổ về  đây buôn bán ngày càng tăng. Như một hệ quả, trong khi  tuyến đường biển phía đông (<em>Dongyang</em> <em>hanglu</em>)  của người Trung Quốc xuông Đông Nam Á ngày càng phát triển,  tuyến đường truyền thống phía tây dọc duyên hải Việt  Nam (<em>Xiyang</em> <em>hanglu</em>) ngày càng mất đi vị thế <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt43" id="fntr43" name="fntr43"><sup>(43)</sup></a>.  Trong bối cảnh đó, việc vùng Đông Bắc nói riêng và phần  lớn duyên hải Đại Việt mất đi vị thế ưu việt của  mình trong hệ thống buôn bán chung của khu vực là điều  có thể lí giải được.</p>
<p>Thứ  ba, mạng lưới mậu dịch gốm sứ quốc tế đã có những  thay đổi mạnh từ giữa thế kỉ XVI và tác động không  nhỏ đến Đại Việt. Nếu như chính sách Hải Cấm của  nhà Minh trong các thế kỉ XIV và XV đã tạo điều kiện  rất lớn cho gốm sứ Đông Nam Á (gốm hoa nâu và Chu Đậu  của Đại Việt, gốm Gò Sành của Chămpa, gốm Sawankhalok  của Xiêm…) phát triển và chi phối luồng gốm sứ thương  mại khu vực và quốc tế, việc bãi bỏ chính sách đóng  cửa của nhà Minh vào năm 1567 đồng thời đặt dấu chấm  hết cho kỉ nguyên gốm sứ thương mại Đông Nam Á sau khi  gốm sứ Trung Quốc trở lại chiếm lĩnh thị trường <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt44" id="fntr44" name="fntr44"><sup>(44)</sup></a>.  Trong bối cảnh đó, việc gốm sứ Đại Việt ở giai đoạn  cuối của triều Mạc, dù vẫn phát triển, không còn chiếm  lĩnh được thị trường bên ngoài, tạo nên một “khoảng  trống Mạc” (Mac gap) trong thương mại gốm sứ quốc tế  như Roxanna M. Brown <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt45" id="fntr45" name="fntr45"><sup>(45)</sup></a> từng băn khoăn là điều có thể  lí giải được từ bình diện thương mại gốm sứ khu  vực và quốc tế.</p>
<p>Bên  cạnh ba nhân tố mang tính ngoại cảnh trình bày trên  đây, sự thay đổi triều chính liên tục ở Đại Việt  từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XVI có thể được  coi là nhân tố nội tại và tác động trực tiếp đến  vị trí của Đại Việt, nhất là các hải cảng khu vực  Đông Bắc, trong hệ thống thương mại Biển Đông thời  kì này. Sau khi lên ngôi năm 1527, Mạc Đăng Dung (và các  vua tiếp theo của triều Mạc) luôn chủ trương phát triển  quê hương Dương Kinh (Hải Phòng) thành trung tâm chính trị  thứ hai sau Thăng Long, đồng thời biến nơi đây thành cửa  ngõ thông thương của Đại Việt ra bên ngoài <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt46" id="fntr46" name="fntr46"><sup>(46)</sup></a>. Chiến  lược này của họ Mạc rõ ràng đã lấy đi một phần  rất lớn ưu thế thương mại của Vân Đồn và vùng duyên  hải Đông Bắc, mặc cho nhà Mạc duy trì một tầm nhìn  khá cởi mở về thương mại. Từ cuối thế kỉ XVI đầu  thế kỉ XVII, với sự chuyển giao quyền lực từ triều  Mạc sang triều đình Lê-Trịnh, cửa ngõ thông thương của  Đại Việt lại tiếp tục có những hoán đổi: từ Dương  Kinh chuyển dịch xuống vùng cửa sông Thái Bình. Như vậy  là, chỉ trong vòng khoảng một trăm năm dưới triều Mạc  và triều Lê-Trịnh, cửa ngõ thương mại chính yếu của  quốc gia Đại Việt đã liên tục chuyển dịch xuống phía  nam: từ Vân Đồn (thế kỉ XII - XVI) qua Dương Kinh (thế  kỉ XVI) xuống vùng cửa sông Thái Bình (thế kỉ XVII - khoảng  thế kỉ XIX).</p>
<p>Điều  đáng nói là, nếu như giai đoạn Dương Kinh vẫn nằm trong  giai đoạn quá độ của hải thương khu vực (thế kỉ  XVI, người phương Tây bắt đầu thâm nhập), sự nổi lên  của vùng cửa sông Thái Bình gắn với một kỉ nguyên mới  của hải thương khu vực Đông Á. Từ thế kỉ XVII, các  tuyến hải thương truyền thống ở khu vực Biển Đông  và Nam Hải vốn được điều hành bởi thương nhân châu  Á (Trung Quốc, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á) trước đây  đã dần dần bị người phương Tây (Hà Lan, Anh, Pháp, Bồ  Đào Nha…) chiếm lĩnh. Không chỉ cấu trúc hải thương  khu vực mà ngay cả nội dung (hay bản chất) của các luồng  hải thương cũng bị biến đổi để phù hợp với bối  cảnh mới <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt47" id="fntr47" name="fntr47"><sup>(47)</sup></a>. Trong kỉ nguyên mới của thương mại khu  vực Đông Á, quốc gia Đại Việt (cả Đàng Trong và Đàng  Ngoài) đều có vị trí quan trọng và trong những thời kì  nhất định trở thành những mắt xích không thể thay thế  <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt48" id="fntr48" name="fntr48"><sup>(48)</sup></a>. Riêng tại Đàng Ngoài, một thực tế không thể phủ  nhận là trong thế kỉ XVII và một phần của thế kỉ XVIII,  đại đa số các thương thuyền ngoại quốc đến buôn bán  với Đàng Ngoài đều vào cửa sông Thái Bình và lưu trú  tại Domea (Tiên Lãng) trong khi hoạt động xuất nhập khẩu  diễn ra chủ yếu tại kinh đô Thăng Long <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt49" id="fntr49" name="fntr49"><sup>(49)</sup></a>. Việc đại  đa số thương nhân và thương thuyền ngoại quốc tập trung  về Tiên Lãng thế kỉ XVII-XVIII cũng như trường hợp nổi  lên của Dương Kinh thế kỉ XVI, như một hệ quả, đã  làm suy giảm đáng kể, trên phương diện quan phương, vị  trí và vai trò của Vân Đồn nói riêng và khu vực cảng  biển vùng Đông Bắc nói chung.</p>
<p>Mặc  dù vậy, cũng cần nói thêm rằng, sự chuyển dịch  cửa ngõ buôn bán xuống vùng Dương Kinh (thế kỉ XVI) và  cửa sông Thái Bình (thế kỉ XVII - XVIII) không đồng nghĩa  với sự “biến mất” hay “suy tàn hoàn toàn” của Vân  Đồn và vùng duyên hải Đông Bắc như một số nhà nghiên  cứu từng quan niệm. Với vị trí tiếp giáp với khu vực  thương mại sôi động ở đông nam Trung Quốc, Vân Đồn  và khu vực duyên hải Đông Bắc - dù không còn là cửa  ngõ thương mại chính của Đại Việt như ở giai đoạn  Lí, Trần - vẫn có vai trò thương mại đáng kể. Những  nỗ lực của người Hà Lan và người Anh trong chiến lược  xây dựng trung tâm buôn bán ở vùng biên giới Đông Bắc  trong nửa cuối thế kỉ XVII cho thấy khu vực này vẫn có  vị trí quan trọng trong trao đổi với Trung Quốc qua các  trung tâm trao đổi lớn (bạc dịch trường) ở dọc biên  giới <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt50" id="fntr50" name="fntr50"><sup>(50)</sup></a>. Tuy nhiên, trở lực lớn nhất cho sự phát triển  của vùng Đông Bắc từ nửa cuối thế kỉ XVII là vấn  đề hải tặc và sự bất ổn chính trị ở vùng nam và  đông nam Trung Quốc sau sự biến Minh - Thanh năm 1644. Sau  khi nhà Minh sụp đổ, nhiều nhóm hải tặc cũng như các  thế lực “phản Thanh phục Minh” thường chọn vùng nam  Trung Quốc, một phần giáp với biên giới Việt - Trung,  để trú chân và tiến hành cướp bóc các thương thuyền  ngoại quốc đến buôn bán với Đàng Ngoài qua khu vực phía  bắc Vịnh Bắc Bộ và bán đảo Lôi Châu <a href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#fnt51" id="fntr51" name="fntr51"><sup>(51)</sup></a>. Triều đình  Lê-Trịnh vì thế thắt chặt quản lí vùng Đông Bắc trong  phần lớn thế kỉ XVII, khiến cho vị trí thương mại của  khu vực này không có điều kiện phát huy như ở các thế  kỉ trước.</p>
<h3>Một số  nhận xét</h3>
<p>Là một  trong số các khu vực hải thương năng động bậc nhất  thế giới thời cổ, trung và cận đại sơ  kì, Vịnh Bắc Bộ nói riêng và khu vực Biển  Đông nói chung là điểm đến của nhiều thương nhân và  thương thuyền ngoại quốc. Vào thời cổ trung đại, thương  nhân châu Á (Trung Quốc, Đông Nam Á, Nam Á, Tây Á) đã hội  tụ về đây buôn bán, biến nơi đây thành một khu vực  hải thương sôi động. Các hải cảng thuộc duyên hải  nước ta (Vân Đồn ở Đông Bắc; Thanh-Nghệ-Tĩnh ở bắc  Trung Bộ; Vijaya của người Chăm ở nam Trung Bộ…) cũng  nhờ đó mà phát triển theo. Với sự thâm nhập của người  châu Âu vào Đông Á đầu thế kỉ XVI, cấu trúc hải thương  truyền thống ở khu vực Biển Đông dần dần bị phá vỡ,  thay thế bởi một cấu trúc mới mang đậm dấu ấn của  các thế lực thương mại và hàng hải phương Tây.</p>
<p>Tương ứng với các giai đoạn  phát triển chính của thương mại khu vực và quốc tế  qua Biển Đông, Đại Việt, thông qua các hải cảng và trung  tâm buôn bán duyên hải, đã thể hiện các cấp độ dự  nhập và đóng những vai trò khác nhau. Trong cái nhìn lịch  sử và hệ thống, sự dự nhập và điều chỉnh của Đại  Việt trong hệ thống thương mại Biển Đông được thể  hiện rõ qua quá trình tự điều chỉnh cửa ngõ thông thương:  quá trình chuyển dịch dần dần xuống phía nam để hội  nhập với những biến chuyển của hải thương khu vực.  Nếu như dưới thời kì Lí, Trần và đầu Lê sơ (thế  kỉ XI - cuối thế kỉ XV), Vân Đồn và vùng duyên hải  Đông Bắc là cửa ngõ chính của quốc gia Đại Việt, trong  thế kỉ XVI Dương Kinh (Hải Phòng) trở thành đầu mối  giao thương trọng yếu của triều Mạc. Sự thiên dịch  còn tiếp diễn trong thế kỉ XVII với sự nổi lên của  vùng cửa sông Thái Bình (Tiên Lãng, Hải Phòng) như cửa  ngõ giao thương chính của Đại Việt thời Lê - Trịnh.</p>
<p>Nếu  như tự thân sự thiên dịch trên chỉ mới  phản ánh thực tế lịch sử, luận giải về nội dung  của những biến thiên lịch sử, nhất là phân tích các  vấn đề nội và ngoại cảnh tác động đến sự thiên  dịch, sẽ cung cấp những kiến giải sâu sắc về sự thay  đổi bản chất và cấu trúc của các hiện tượng lịch  sử trên. Như đã phân tích, đến nửa đầu thế kỉ XVI  gốm sứ được coi là thương phẩm chính của Đại Việt  xuất khẩu ra bên ngoài nên Vân Đồn và vùng Đông Bắc  - khá gần trung tâm gốm sứ Chu Đậu (Hải Dương) - có  vị trí thuận lợi cho hoạt động chuyên chở và xuất  khẩu. Bên cạnh đó là việc Vân Đồn án ngữ vùng cửa  ngõ Vịnh Bắc Bộ - trung tâm của các hoạt động trao đổi  nô lệ, muối, ngựa…của thế giới hải thương Giao Chỉ  Dương, nơi có sự tham gia của đông đảo thương nhân đến  từ Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á... Từ thế kỉ XVI, không  chỉ thương nhân châu Á mất dần vị trí ở Biển Đông  vào tay người phương Tây mà cơ cấu thương phẩm cũng  thay đổi từ gốm sứ sang tơ lụa - sản phẩm phổ biến  của vùng châu thổ sông Hồng, nhất là các làng lụa nổi  tiếng dọc sông Hồng, khu vực kinh thành và các vùng phụ  cận Thăng Long... Ngay cả khi gốm sứ Đàng Ngoài được  người nước ngoài xuất khẩu ra Đông Nam Á với số lượng  lớn
		</div>
				<div id="author">
						<p>
				<strong>Tác giả:</strong>
				i333
			</p>
		</div>
	</div>
	<div id="footer" class="clearfix">
		<div id="url">
			<strong>URL của bản tin này: </strong><a href="https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/nhan-vat-su-kien/vi-tri-cua-viet-nam-trong-he-thong-thuong-mai-bien-dong-thoi-co-trung-dai-9058.html" title="Vị trí của Việt Nam trong hệ thống thương mại biển Đông thời cổ trung đại">https://ussh.vnu.edu.vn/vi/news/savefile/nhan-vat-su-kien/vi-tri-cua-viet-nam-trong-he-thong-thuong-mai-bien-dong-thoi-co-trung-dai-9058.html</a>

		</div>
		<div class="clear"></div>
		<div class="copyright">
			&copy; Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN
		</div>
		<div id="contact">
			<a href="mailto:contact@ussh.edu.vn">contact@ussh.edu.vn</a>
		</div>
	</div>
</div>
        <div id="timeoutsess" class="chromeframe">
            Bạn đã không sử dụng Site, <a onclick="timeoutsesscancel();" href="https://www.ussh.vnu.edu.vn/#">Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập</a>. Thời gian chờ: <span id="secField"> 60 </span> giây
        </div>
        <div id="openidResult" class="nv-alert" style="display:none"></div>
        <div id="openidBt" data-result="" data-redirect=""></div>
        <div id="isScreenMd"></div>
<div id="run_cronjobs" style="visibility:hidden;display:none;"><img alt="cron" src="/index.php?second=cronjobs&amp;p=l1861fzr" width="1" height="1" /></div>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/jquery/jquery.min.js"></script>
<script>var nv_base_siteurl="/",nv_lang_data="vi",nv_lang_interface="vi",nv_name_variable="nv",nv_fc_variable="op",nv_lang_variable="language",nv_module_name="news",nv_func_name="savefile",nv_is_user=0, nv_my_ofs=-4,nv_my_abbr="EDT",nv_cookie_prefix="nv4",nv_check_pass_mstime=1738000,nv_area_admin=0,nv_safemode=0,theme_responsive=1,nv_recaptcha_ver=2,nv_recaptcha_sitekey="6LfUJLoZAAAAAOF-uL1e3WO-MbQOZOJfBeGwOWBw",nv_recaptcha_type="image",XSSsanitize=1;</script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/language/vi.js"></script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/DOMPurify/purify3.js"></script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/global.js"></script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/assets/js/site.js"></script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/default/js/news.js"></script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/js/main.js"></script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/js/custom.js"></script>
<script type="application/ld+json">
        {
            "@context": "https://schema.org",
            "@type": "Organization",
            "url": "https://www.ussh.vnu.edu.vn",
            "logo": "https://www.ussh.vnu.edu.vn/uploads/ussh/logo-ussh-2_100_100.png"
        }
        </script>
<script src="https://www.ussh.vnu.edu.vn/themes/ussh_v2/js/bootstrap.min.js"></script>
</body>
</html>