Hội thảo có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia và đại diện các viện nghiên cứu, trường đại học, bảo tàng, cơ quan quản lý di sản cùng các đối tác quốc tế. Các báo cáo được trao đổi trong hai phiên chuyên đề về khảo cổ học tiền sơ sử và khảo cổ học lịch sử, với phạm vi nghiên cứu trải rộng từ miền núi phía Bắc, trung du và đồng bằng Bắc Bộ đến Bắc Trung Bộ, miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
Các tham luận tập trung vào bốn nhóm vấn đề chính: diễn trình cư trú và biến đổi văn hóa trong mối quan hệ với môi trường; tổ chức sản xuất và giao lưu giữa các cộng đồng; không gian chính trị, quân sự và thương mại; cùng lịch sử hình thành, biến đổi của các không gian tôn giáo và tín ngưỡng.

PGS.TS Đặng Hồng Sơn - Phó hiệu trưởng nhà trường phát biểu khai mạc hội thảo
Ở lĩnh vực khảo cổ học tiền sử, những nghiên cứu tại Làng Vành, Thẩm Tấu, Ngòi Nhù, Cái Bèo và Cát Đồn bổ sung tư liệu về hoạt động cư trú, chế tác công cụ, sinh kế và sự thích ứng của con người với các môi trường khác nhau. Đáng chú ý, kết quả nghiên cứu cho thấy sự chuyển đổi kỹ thuật và văn hóa trong quá khứ không phải lúc nào cũng diễn ra theo một chiều tuyến tính; những phương thức sinh hoạt và kỹ thuật truyền thống có thể tiếp tục tồn tại song song với các yếu tố mới.
Các di tích Vườn Chuối – Dền Rắn – Mỏ Phượng tiếp tục cung cấp nguồn tư liệu quan trọng về cư trú, mộ táng và sản xuất thủ công thời đại kim khí. Trong khi đó, di chỉ Thiện Kế góp phần mở rộng hiểu biết về sự phân bố của văn hóa Gò Mun tại khu vực trung du Tuyên Quang, gợi mở những hướng nghiên cứu mới về mối quan hệ giữa Gò Mun và Đông Sơn tại lưu vực sông Phó Đáy và sông Lô.
Ở các khu vực khác, di tích Thác Hai tại Tây Nguyên và Gò Me – Gò Sành tại Tây Nam Bộ bổ sung tư liệu về hoạt động chế tác thủ công và các cộng đồng thời tiền sơ sử. Những kết quả này mở rộng không gian nghiên cứu khảo cổ học, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục kiểm chứng các giả thuyết về niên đại, kỹ thuật sản xuất và giao lưu liên vùng.
Đối với khảo cổ học lịch sử, các nghiên cứu tại Hoa Lư, Kính Thiên, Vạn Lại – Yên Trường, Bình Ca và Vân Đồn góp phần làm rõ tổ chức không gian quyền lực, kiến trúc và hoạt động thương mại qua các thời kỳ. Tại Mỹ Sơn, phát hiện đường dẫn phía đông tháp K nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu thánh địa trong tổng thể cấu trúc không gian, thay vì chỉ tập trung vào từng công trình kiến trúc riêng lẻ. Các nghiên cứu về chùa tháp Yên Tử cũng cho thấy hiệu quả của việc kết hợp tư liệu khảo cổ với bi ký và thư tịch lịch sử.

GS.TS Lâm Thị Mỹ Dung, Trường Đại học KHXH&NV, trình bày tham luận: Khai quật khảo cổ Cái Bèo (Hải Phòng) năm 2022

PGS.TS Tống Trung Tín, Chủ tịch Hội Khảo cổ học Việt Nam, trình bày tham luận: Kết quả khai quật thăm dò khu vực chính điện Kính Thiên (Hà Nội) năm 2026

TS Lê Hải Đăng, Viện Khảo cổ học, trình bày tham luận: Khai quật lần thứ hai mái đá Làng Vành (Phú Thọ): Tư liệu và nhận thức mới
Một trong những vấn đề được hội thảo nhấn mạnh là nâng cao chất lượng nghiên cứu sau khai quật. Theo đó, giá trị khoa học của một cuộc khai quật không chỉ nằm ở số lượng hiện vật thu được hay diện tích khai quật, mà còn phụ thuộc vào khả năng nhận diện bối cảnh địa tầng, xác lập niên đại và kết nối các nguồn tư liệu thành những luận cứ lịch sử có thể kiểm chứng.
Các ý kiến trao đổi đề xuất tăng cường ứng dụng phương pháp định tuổi, phân tích vật liệu, nghiên cứu động thực vật, trầm tích, kỹ thuật chế tác và các công nghệ số trong nghiên cứu khảo cổ học. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ cần gắn với chất lượng quan sát, ghi chép hiện trường và kiểm chứng khoa học; đồng thời phải phân biệt rõ giữa chứng cứ khảo cổ và những giả thuyết diễn giải. Hội thảo thảo luận sôi nổi xung quanh vấn đề kiến trúc cổ và các vấn đề liên quan đến diễn giải và phục dựng các di tích khảo cổ học mà các nghiên cứu trường hợp là khu vực Chính điện Kính Thiên và khu thánh địa Mỹ Sơn.
Hội thảo cũng đặt ra yêu cầu chuyển từ phương thức quản lý di sản chủ yếu dựa vào khai quật cứu hộ sang chủ động điều tra, lập bản đồ tiềm năng khảo cổ và tích hợp dữ liệu di sản vào quy hoạch phát triển. Công tác bảo tồn cần được chuẩn bị ngay từ trước khi khai quật, bao gồm phương án xử lý, lưu giữ hiện vật, bảo quản mẫu và bảo vệ di tích sau khai quật.
Đối với những khu vực có nhiều lớp văn hóa hoặc các phức hệ di tích quy mô lớn, việc bảo vệ cần được thực hiện trong mối quan hệ với toàn bộ cảnh quan khảo cổ, không chỉ giới hạn ở từng hố khai quật hay công trình riêng lẻ. Bên cạnh đó, số hóa hồ sơ và chuẩn hóa dữ liệu được xác định là những yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao khả năng đối sánh, kiểm tra và chia sẻ kết quả nghiên cứu.

TS.Hoàng Văn Diệp, Trường Đại học KHXH&NV, trình bày tham luận: Kết quả khai quật Ngòi Nhù (Lào Cai) năm 2025

ThS.Nguyễn Thơ Đình, Viện Khảo cổ học, trình bày tham luận: Kết quả khai quật khảo cổ học phức hệ di tích Vườn Chuối (Hà Nội) giai đoạn 2019-2025
Từ kết quả hội thảo, các nhà khoa học nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường hợp tác liên ngành, chuẩn hóa phương pháp nghiên cứu, nâng cao chất lượng công bố sau khai quật và gắn kết kết quả nghiên cứu với các quyết định quản lý, bảo tồn di sản.
Hội thảo “Báo cáo thường niên Khảo cổ học Việt Nam năm 2026” không chỉ góp phần cập nhật những phát hiện khảo cổ học, mà còn tạo diễn đàn trao đổi chuyên môn về phương pháp nghiên cứu, cách diễn giải tư liệu và trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa. Những kết quả được giới thiệu tiếp tục khẳng định vai trò của khảo cổ học trong việc tái dựng lịch sử, nhận diện sự đa dạng văn hóa và làm rõ các mối quan hệ giữa cộng đồng người với môi trường qua nhiều thời kỳ.
Thông qua việc kết nối kết quả khai quật với nghiên cứu chuyên sâu và công bố khoa học, hội thảo hướng tới mục tiêu chuyển hóa tư liệu khảo cổ thành tri thức lịch sử có cơ sở kiểm chứng, đồng thời góp phần gìn giữ các giá trị di sản cho các thế hệ tương lai.
Một số hình ảnh tại Hội thảo:





Tác giả: Khoa Lịch sử và Văn hoá
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn