Tin tức

Kinh tế di sản: Nhận diện nguồn vốn văn hóa và định hướng chính sách phát triển bền vững

Thứ ba - 19/05/2026 05:07
Sáng nay 19/5/2026, trong khuôn khổ Tuần lễ Khoa học Xã hội và Nhân văn – SSH Week 2026, Khoa Lịch sử và Văn hóa, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ trì tổ chức Hội thảo khoa học “Kinh tế di sản: Từ lý thuyết đến chính sách và thực tiễn phát triển bền vững”.

Chương trình do GS.TS. Nguyễn Quang Ngọc - Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn - Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội và PGS.TS Đặng Hồng Sơn - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ trì

Hội thảo có sự tham dự của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý đến từ Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia, các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng nhiều cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong và ngoài nước.

Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn trao đổi học thuật về mối quan hệ giữa di sản, văn hóa, kinh tế và phát triển bền vững; qua đó góp phần cung cấp thêm cơ sở khoa học cho công tác hoạch định chính sách, quản trị di sản và phát huy các nguồn lực văn hóa trong đời sống đương đại.

PGS.TS Đặng Hồng Sơn phát biểu khai mạc hội thảo

Di sản không chỉ để bảo tồn, mà là nguồn vốn văn hóa cho phát triển

Một trong những nội dung nổi bật được các nhà khoa học thống nhất tại hội thảo là cần tiếp cận di sản không chỉ từ góc nhìn bảo tồn tĩnh, mà phải đặt trong tư duy phát triển bền vững. Theo đó, di sản cần được nhìn nhận như một dạng vốn văn hóa, một nguồn lực nhân văn có khả năng tạo ra giá trị kinh tế, đóng góp vào sự phát triển của quốc gia, đồng thời vẫn bảo đảm tính bền vững, có trách nhiệm và có kiểm soát.

Trong tham luận “Kinh tế di sản trong chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam: Từ tư duy bảo tồn sang tư duy phát triển bền vững”, PGS.TS. Bùi Hoài Sơn khẳng định kinh tế di sản không đồng nghĩa với thương mại hóa trục lợi hay khai thác cạn kiệt di sản. Kinh tế di sản cần được hiểu là quá trình tổ chức, vận hành và phát huy giá trị di sản một cách bền vững, đặt di sản trong mối liên kết hữu cơ với công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo của kỷ nguyên mới.

Từ góc nhìn lý luận rộng hơn, GS.TS. Nguyễn Văn Kim, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, cho rằng đã đến lúc không nên chỉ coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, mà cần đồng thời khẳng định nền tảng vật chất quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội và đất nước. Tác giả nhấn mạnh xu thế kinh tế hóa văn hóa và văn hóa hóa kinh tế đang diễn ra trên diện rộng, có thể dẫn đến quá trình nhất thể hóa giữa kinh tế và văn hóa, qua đó hình thành nền kinh tế văn hóa và kinh tế di sản trong xã hội hiện đại.

Ở một hướng tiếp cận khác, tham luận “Kinh tế di sản dựa trên lý thuyết tư bản văn hóa: Khung phân tích tích hợp và hàm ý cho Việt Nam” của PGS.TS. Phạm Hồng Long và TS. Nguyễn Việt Hà, Khoa Du lịch học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã đề xuất khung phân tích tích hợp dựa trên ba cấp độ: nhận thức về di sản như “tư bản văn hóa/vốn văn hóa”; cơ chế tạo và đồng tạo giá trị; công cụ triển khai trong không gian phát triển.

Khung phân tích này vận hành thông qua chuỗi giá trị động gồm “đầu vào - cơ chế khai thác - đầu ra - kết quả phát triển”. Từ việc đối chiếu thực tiễn quốc tế tại Trung Quốc, Ý, Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ, nhóm tác giả nhấn mạnh yêu cầu chuyển dịch tư duy từ “khai thác tài nguyên” ngắn hạn sang “quản trị vốn văn hóa” dài hạn; thiết kế cấu hình phát triển linh hoạt theo đặc thù; đa dạng hóa công cụ tài chính, trong đó có đối tác công - tư; đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch nhằm tăng cường vai trò của cộng đồng chủ thể.

Những phân tích trên cho thấy, phát triển kinh tế di sản không phải là tách di sản khỏi bản chất văn hóa của nó, mà là tìm cách phát huy giá trị văn hóa trong những mô hình phát triển phù hợp. Di sản vì thế không chỉ là đối tượng cần bảo vệ, mà còn là nguồn lực nội sinh của nền kinh tế sáng tạo, của phát triển địa phương và của sức mạnh mềm quốc gia.

Các chuyên gia, nhà khoa học chia sẻ tại hội thảo

Từ lượng giá di sản đến các mô hình thực tiễn và kiến nghị chính sách

Bên cạnh những vấn đề lý luận, hội thảo ghi nhận các đóng góp quan trọng về phương pháp luận, đặc biệt là việc sử dụng công cụ định lượng để lượng giá di sản. Đây được xem là hướng tiếp cận giúp bổ sung cơ sở khoa học cho quản lý di sản, nhất là trong bối cảnh các giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần thường khó đo lường bằng các phương pháp truyền thống.

Trong nghiên cứu về Đền Vua Đinh – Vua Lê thuộc Quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình, TS. Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN, đã áp dụng phương pháp Định giá ngẫu nhiên – CVM để lượng hóa giá trị di sản văn hóa vật thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình của du khách đạt 754.129 đồng/lượt đối với khách nội địa và 15,5 USD/lượt đối với khách quốc tế. Từ đó, tổng giá trị phi thị trường ước tính của di sản này riêng năm 2024 đạt tới 332,6 tỷ đồng. Đây là những bằng chứng khoa học có ý nghĩa trong việc hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản.

Các nghiên cứu trường hợp được trình bày và tổng kết tại hội thảo cũng cho thấy tính đa dạng của kinh tế di sản trong thực tiễn. Với tham luận về các di tích và lễ hội thờ nước ven sông Hồng vùng Hà Nội và phụ cận, PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương, Khoa Lịch sử và Văn hóa, đề xuất chuyển từ tiếp cận “di sản điểm” sang “di sản tuyến”, nhằm phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên di sản trên cơ sở liên kết không gian văn hóa dọc lưu vực sông. Đây là gợi mở có giá trị đối với quy hoạch tích hợp và khai thác bền vững các trầm tích văn hóa vùng châu thổ Bắc Bộ.

Hội thảo cũng đề cập đến nhiều hướng tiếp cận thực tiễn khác như khai thác giá trị di sản kiến trúc thời thuộc địa phục vụ phát triển kinh tế du lịch ở Hải Phòng; phát triển mô hình công viên di sản văn hóa tại Phù Đổng; chuyển hóa di sản cách mạng thành nguồn vốn cho công nghiệp văn hóa; ứng dụng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong phát triển kinh tế di sản tại Hạ Long; cũng như số hóa di sản như một phương thức tư liệu hóa hiện đại trong kỷ nguyên số.

Từ các tham luận và thảo luận, hội thảo thống nhất ba nhóm vấn đề lớn. Trước hết, cần xác lập hệ tư duy xem di sản là nguồn vốn văn hóa, là động lực nội sinh của nền kinh tế sáng tạo; đồng thời thực thi nghiêm túc tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa. Hội thảo nhấn mạnh yêu cầu thay đổi triết lý thiết kế chính sách văn hóa quốc gia trong kỷ nguyên mới; thể chế hóa hành lang pháp lý, xây dựng tiêu chí phân loại, xếp hạng riêng và ban hành chính sách ưu đãi đặc thù.

Thứ hai, cần khẳng định vai trò của công cụ định lượng khoa học, đo lường đa chiều văn hóa – kinh tế – môi trường, nhằm bổ khuyết cho tư duy định tính ước lệ trong quản lý di sản. Các ý kiến tại hội thảo kiến nghị thể chế hóa việc đưa các giá trị phi thị trường vào hệ thống đánh giá; đồng thời thiết lập hành lang pháp lý cho phép thành lập các quỹ bảo tồn di sản chủ động tại địa phương để tự chủ tái đầu tư.

Thứ ba, về thực tiễn, các tham luận đề xuất những mô hình không gian sáng tạo như công viên di sản quốc gia, tiếp cận di sản tuyến, tái sử dụng thích nghi di sản công nghiệp; đồng thời lưu ý phương án quy hoạch không gian tích hợp quy mô lớn và kiểm soát nghiêm ngặt theo mô hình chuyển đổi kép: số và xanh.

Hội thảo nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa các luận điểm khoa học thành những kiến nghị chính sách cụ thể, có thể định lượng và kiểm chứng. Những kết quả đạt được là cơ sở quan trọng để Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tiếp tục xây dựng các báo cáo tư vấn, kiến nghị gửi tới các cơ quan trung ương và địa phương, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược về phát triển văn hóa, bảo tồn di sản và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.

Báo Thể thao & văn hóa: Kinh tế di sản - 'lượng giá' để phát triển bền vững

Tin bài liên quan:

Nâng cao năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu, giảng dạy và công bố khoa học

Những xu hướng mới trong quan hệ quốc tế từ đầu thế kỷ XXI và tác động đến Việt Nam

Quản trị tài sản trí tuệ trong nền kinh tế sáng tạo: định hình chiến lược trước "làn sóng" trí tuệ nhân tạo

Năng lực số trong giáo dục đại học: Đánh giá, đo lường và hàm ý chính sách

Từ phê bình sinh thái đến điện ảnh sinh thái tại Việt Nam: Những tiếp cận xuyên ngành

Kinh tế di sản: Nhận diện nguồn vốn văn hóa và định hướng chính sách phát triển bền vững

Tác giả: Thuy Dzung - USSH Media

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây